Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ

Báo cáo

Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ

Căn cứ Công văn số 47/SKHCN-QLKH ngày 20/01/2016 của Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận, về việc báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2005- 2015 và định hướng phát triển trong giai đoạn tới;

UBND huyện Hàm Thuận Bắc báo cáo kết quả triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2005- 2015 trên địa bàn huyện cụ thể như sau:

I. Việc triển khai chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) giai đoạn 2005-2015:

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; trong những năm qua, UBND huyện Hàm Thuận Bắc rất quan tâm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN trên địa bàn huyện, do đó đã đạt được một số kết quả quan trọng, nhất là việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương;

Căn cứ Kế hoạch số 87-KH/HU ngày 20/02/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khoá X) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI), về “phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; UBND huyện Hàm Thuận Bắc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn huyện, nhằm tạo động lực mới, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa phương.

II. Kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2005-2015:

1. Trên lĩnh vực nông nghiệp:

1.1. Về trồng trọt:

Từ năm 2009 đến nay, trên địa bàn huyện đã triển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông qua nhiều mô hình trình diễn để giúp người nông dân có thêm những kiến thức cơ bản để đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể:

a) Mô hình trên cây lúa:

- Thực hiện chương trình xã hội hoá giống lúa, đến nay diện tích sản xuất ổn định khoảng 180 ha, hàng năm cung cấp cho thị trường gần 1.000tấn giống lúa xác nhận; có 3 đơn vị sản xuất và cung ứng giống lúa đó là Hợp tác xã Hoà Thành (tại thị trấn Phú Long) với diện tích 90 ha, Hợp tác xã Hàm Chính 1 với diện tích 30 ha và Trạm giống Ma Lâm với diện tích 60 ha. Tuy nhiên, do nhu cầu thị trường, hiện nay nguồn giống được cung ứng trên địa bàn huyện chủ yếu vẫn là giống ML48. Ngoài 03 đơn vị sản xuất giống lúa nói trên, trong những năm qua từ nguồn kinh phí sự nghiệp nông nghiệp cũng đã triển khai mô hình xã hội hóa giống lúa cho các xã, thị trấn với diện tích hơn 220 ha, sản lượng khoảng 1.300 tấn, góp phần tích cực vào việc thực hiện chương trình xã hội hóa giống lúa của địa phương;

- Mô hình sản xuất lúa “3 giảm 3 tăng”, được thực hiện với diện tích khoảng 36ha tại các xã, thị trấn, nhằm giúp nông dân giảm được lượng giống gieo từ 250- 300kg/ha xuống còn 150- 200kg/ha, góp phần hạn chế sâu bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;

- Mô hình sử dụng nấm xanh phòng trừ rầy nâu trên lúa, được thực hiện với quy mô 40 ha, tại xã Thuận Hòa, thị trấn Ma Lâm và thị trấn Phú Long; đây là một tiến bộ kỹ thuật mới; qua thực hiện mô hình đã chuyển giao cho nông dân nắm vững quy trình kỹ thuật phòng trừ rầy nâu của nấm xanh;

- Mô hình quản lý dịch hại tổng hợp bằng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa), triển khai tại xã Hàm Trí với diện tích 17ha/ 43 hộ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp nông dân giảm được chi phí thuốc BVTV, bảo vệ sức khỏe cho nông dân, thân thiện với môi trường, tạo cân bằng sinh thái ruộng lúa, góp phần tạo cảnh quan môi trường nông thôn;

- Mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ lúa giống, lúa thương phẩm tại xã Hồng Sơn, Hàm Phú và Hàm Trí với diện tích 122ha/283 hộ tham gia. Qua triển khai bước đầu đã giúp cho nông dân liên kết trong sản xuất, tạo ra sản lượng lúa tập trung, năng suất, chất lượng tăng, đáp ứng nhu cầu thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân.

b) Mô hình trên cây thanh long:

- Mô hình hệ thống tưới trên thanh long (1000 trụ) tại xã Hàm Hiệp. Mô hình hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước kết hợp bón phân trên thanh long với quy mô 1 ha tập trung triển khai tại Phú Long và Hàm Chính. Mô hình ứng dụng chế phẩm chitosan trong chăm sóc thanh long, thực hiện 3 ha tại các xã: Hàm Phú 1ha, Hàm Đức 1ha, Phú Long 1ha, đã đạt hiệu quả cao cho nông dân;

- Mô hình sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGap, đã triển khai thành lập tổ và cấp chứng nhận cho 188 tổ với diện tích 3.328ha đạt tiêu chuẩn VietGAP;

- Các mô hình liên minh sản xuất thanh long với tổng diện tích là 323,2 ha/306 hộ nông dân sản xuất thanh long tham gia tại các xã Hàm Hiệp, Hàm Liêm, Hồng Sơn và Hàm Chính.

 

 

c) Mô hình trên cây bắp lai:

- Mô hình trồng bắp lai với quy mô 1 ha tại xã Đông Giang và thực hiện luân canh cây bắp, qua đó đã giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng sản lượng lương thực, mang lại hiệu quả kinh tế cao trên 1 đơn vị diện tích gieo trồng;

1.2. Về chăn nuôi:

- Mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học với quy mô 4.000 con tại xã Hồng Sơn và xã Hồng Liêm. Mô hình chăn nuôi gà thả vườn với quy mô 1.400 con. Mô hình chăn nuôi bò cái sinh sản, với số lượng 34 con tại xã La Dạ và Đông Tiến. Mô hình trồng cỏ VA06 với quy mô 5 ha tại các xã Hồng Liêm, Thuận Hòa, Hàm Chính và Đa Mi; qua triển khai mô hình đã mang lại lợi nhuận và giúp bà con nông dân nắm được những kiến thức cơ bản trong chăn nuôi.

1.3. Về ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp:         

Đến nay, trên địa bàn huyện có khoảng 71 máy gặt đập liên hợp và hơn 100 máy gặt xếp dãy, tỷ lệ sử dụng máy trong khâu thu hoạch lúa đáp ứng khoảng 60% trên tổng diện tích sản xuất, đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu lao động trong mùa thu hoạch tập trung.

1.4. Chương trình tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật:

Trong những năm qua, đã tổ chức hơn 700 lớp tập huấn kỹ thuật, hơn 100 buổi hội thảo với hơn 35.000 lượt nông dân tham dự, bao gồm tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho nông dân; tập huấn chuyên đề cho cán bộ kỹ thuật và tập huấn nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho khuyến nông viên cơ sở, với nhiều hình thức phong phú.

- Về trồng trọt tập trung vào hướng dẫn người dân các kỹ thuật thực hiện nhân giống lúa xác nhận, kỹ thuật sản xuất lúa 3 giảm 3 tăng, hướng dẫn quy trình quản lý dịch hại tổng hợp bằng công nghệ sinh thái, quy trình sản xuất lúa GAP; kỹ thuật trồng chăm sóc bắp lai, trồng thâm canh cây mè, đậu phụng, đậu xanh, kỹ thuật sử dụng phân bón, phòng trừ sâu bệnh, sản xuất rau an toàn, rau mầm…, kỹ thuật trồng và chăm sóc thanh long VietGAP, quy trình sử dụng chất kích thích sinh trưởng trên thanh long, kỹ thuật trồng chăm sóc cây trôm, ca cao, cao su…

- Về chăn nuôi, tập trung vào kỹ thuật chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học; kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò, lợn; kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bò, vổ béo bò; kỹ thuật chế biến thức ăn cho gia súc mùa khô; kỹ thuật chăm sóc gia súc gia cầm; kỹ thuật chăn nuôi dông và một số bệnh thường gặp trên gia súc, gia cầm. Nhờ đó đã góp phần khống chế và không để xảy ra dịch bệnh trên gia súc gia cầm.

2. Trên lĩnh vực khoa học và công nghệ:

Hàng năm, các ngành tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển KH&CN, trong đó tập trung xây dựng các mô hình và chuyển giao tiến bộ KH&CN vào các ngành trồng trọt, chăn nuôi,… để giúp người dân nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh;

Phối hợp với Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh,…triển khai thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng hàng hoá và công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm trên địa bàn huyện;

a) Các mô hình đã triển khai thực hiện (05 mô hình):

- Mô hình tưới phun tiết kiệm nước cho cây thanh long đã mang lại hiệu quả, được các hộ trồng thanh long quan tâm học hỏi và ứng dụng (thực hiện tại xã Hàm Chính 02 hộ và xã Hàm Hiệp 01 hộ, mỗi hộ 5.000m2);

- Mô hình trồng cây ca cao dưới tán vườn điều (thực hiện tại thôn Dân Lễ-xã Thuận Hoà, quy mô 01 hộ nông dân trồng 1.100 cây ca cao/1 ha đất trồng cây điều), bước đầu mang lại hiệu quả;

- Mô hình nuôi dông kết hợp với nuôi thỏ rừng lai (thực hiện tại thôn Dân Trí- xã Thuận Hoà, quy mô 01 hộ nông dân nuôi trên diện tích 500m2);

- Mô hình nuôi chim bồ câu Pháp theo quy mô bán công nghiệp (thực hiện tại thôn Liêm Thuận-xã Hồng Liêm, quy mô 01 hộ nông dân nuôi 25 cặp bồ câu/chuồng trại 50m2); mô hình bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân;

- Mô hình trồng mít ruột đỏ tại thôn Phú Thắng xã Hàm Phú, quy mô trồng 2.000m2/120 mít giống/hộ dân (mô hình chuyển tiếp đang thực hiện);

Tổng kinh phí sự nghiệp KH&CN hỗ trợ cho 05 mô hình trên là 651.165.000  đồng; hiện nay Mô hình tưới phun tiết kiệm nước đã được các hộ nông dân ứng dụng rộng rãi để phát triển cây thanh long.  

b) Các mô hình khuyến khích áp dụng tiến bộ KH&CN:

Trong thời gian qua, UBND huyện luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các hộ nông dân đầu tư các mô hình sản xuất, chăn nuôi theo quy mô lớn, đảm bảo vệ sinh môi trường và hướng tới phát triển bền vững, cụ thể:

- Trong sản xuất: Các Tổ sản xuất thanh long VietGAP trên địa bàn huyện đang đẩy mạnh việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất; điển hình là các Mô hình chong đèn kích thích cây thanh long ra hoa trái vụ đạt hiệu quả cao, góp phần tiết kiệm điện, giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận; trong đó Tổ sản xuất thanh long VietGAP tại thôn 3-xã Hồng Sơn là một trong những điểm tiêu biểu để nông dân học tập kinh nghiệm. Hiện nay, hầu hết các hộ dân trồng thanh long đều ứng dụng rộng rãi việc sử dụng bóng đèn compact tiết kiệm điện thay cho bóng đèn sợi đốt.

- Trong chăn nuôi: Tại thôn 2-xã Hàm Đức có trang trại chăn nuôi heo của Công ty TNHH Chăn nuôi Tấn Phát, với số lượng khoảng 2.400con heo nái sinh sản/diện tích 16 ha (hoạt động từ tháng 8/2010), mô hình này đang phát triển tốt; tại thôn 2-xã Hàm Liêm có trang trại chăn nuôi heo thịt của Công ty Hải Hà, với số lượng 2.000con heo thịt/diện tích 2 ha;

Ngoài ra, trên địa bàn huyện có một số doanh nghiệp và hộ gia đình đang đầu tư các trang trại chăn nuôi heo với quy mô tương đối, hiện đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, việc phát triển mô hình chăn nuôi heo phải đảm bảo nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường. 

c) Công tác tập huấn chuyển giao tiến bộ KH&CN đã thực hiện:

Hàng năm triển khai thực hiện từ 04- 06 lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KH&CN cho nông dân các xã, thị trấn; trong đó chủ yếu trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long; ứng dụng công nghệ sinh học bảo quản nông sản sau thu hoạch; sử dụng các chế phẩm sinh học để sản xuất thức ăn trong chăn nuôi và làm phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp; khai thác thông tin trên mạng internet để phục vụ sản xuất và đời sống,... Nhờ nội dung tập huấn khá phù hợp nên được nhiều hộ nông dân tham dự và ứng dụng có hiệu quả.

d) Hỗ trợ khuyến khích phát triển kinh tế tập thể:

Thực hiện Quyết số 2608/QĐ-UBND ngày 15/11/2010 của UBND tỉnh Bình Thuận, về việc phê duyệt chương trình hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể về khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015; bằng nguồn kinh phí sự nghiệp KHCN, trong thời gian qua đã hỗ trợ cho 02 đơn vị, gồm:

- Hỗ trợ 25 triệu đồng cho Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hoà Thành-thị trấn Phú Long, đầu tư máy sấy lúa giống để phục vụ sản xuất nông nghiệp (tổng giá trị 70 triệu đồng, công suất sấy 16-20 tấn/ca, thời gian sấy từ 8-12 giờ); sau khi đầu tư, máy sấy hoạt động ổn định và đem lại hiệu quả thiết thực, nhất là vào thời điểm thu hoạch lúa vụ hè thu;

- Hỗ trợ 30 triệu đồng cho Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hàm Đức 5, mua 01 máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa; sau khi đầu tư đã giúp các hộ nông dân thu hoạch lúa nhanh, giảm bớt hao hụt và chi phí nên đã mang lại hiệu quả thiết thực.

e) Hỗ trợ xây dựng 06 điểm thông tin KH&CN tại Văn phòng UBND các  xã Hàm Trí, Hàm Liêm, Hàm Chính, Hồng Sơn, Hàm Phú và thị trấn Ma Lâm , với mức kinh phí hỗ trợ bình quân khoảng 28 triệu đồng/điểm, gồm: 01 máy vi tính, 01 máy in, 01 tivi, 01 đầu DVD, 01modem và các đĩa phim KHCN; qua đó giúp cho cán bộ công chức, đoàn viên, thanh niên, nông dân các xã khai thác và ứng dụng có hiệu quả các thông tin KH&CN, từ đó phục vụ tốt hơn trong công tác quản lý nhà nước cũng như áp dụng vào sản xuất và đời sống của người dân.

3. Thực hiện pháp luật về KH&CN:

Hàng năm, UBND huyện chỉ đạo phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan, tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hoá; trong đó tập trung các mặt hàng như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng; thường xuyên phối hợp với các Đoàn thanh tra, kiểm tra do Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng tỉnh để thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra; qua đó đã kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm hành chính, góp phần làm cho công tác quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn – đo lường - chất lượng sản phẩm hàng hóa trên địa bàn huyện từng bước đi vào nề nếp.

III. Đánh giá chung những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân:

1. Mặt được:

Qua triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN trên địa bàn huyện, thông qua các mô hình sản xuất, các lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN, trong sản xuất đã áp dụng các loại giống mới, bước đầu đạt được những kết quả nhất định, năng suất và chất lượng hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi đều tăng (năng suất cây lúa năm 2009 bình quân toàn huyện đạt 51tạ/ha, đến năm 2015 đạt 55 tạ/ha; năng suất cây bắp năm 2009 đạt 45tạ/ha, đến năm 2015 đạt 54tạ/ha; có khoảng 90% nông dân đã biết sử dụng giống lúa xác nhận để phục vụ sản xuất,...). Công tác cơ giới hóa được đẩy mạnh, góp phần giải quyết tình trạng thiếu lao động trong mùa vụ thu hoạch. Đã có các mô hình chăn nuôi tập trung, bước đầu hình thành và phát triển thay thế dần việc chăn nuôi nhỏ lẻ, quy trình chăn nuôi đã áp dụng tiến bộ khoa học, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

 Một số đơn vị hợp tác xã được hỗ trợ khuyến khích phát triển kinh tế, nhiều hộ nông dân được tập huấn chuyển giao tiến bộ KH&CN, đã góp phần giúp cho các đơn vị kinh tế tập thể, các hộ nông dân có những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm bổ ích để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mạnh dạn đầu tư một số mô hình sản xuất mới, trang trại chăn nuôi, đã tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn.

Trong công tác quản lý nhà nước, một số xã, thị trấn đã được hỗ trợ xây dựng điểm khai thác thông tin KH&CN, qua đó giúp cho cán bộ, công chức, đoàn viên, hội viên tiếp cận nhanh hơn với các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và sự phát triển của KH&CN, từ đó nâng cao hiệu quả công tác.

Những kết quả đạt được nói trên đã góp phần tích cực vào quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn huyện.

2. Mặt hạn chế :

Trong sản xuất nông nghiệp, việc phát triển mô hình trang trại có quy mô lớn đạt hiệu quả cao chưa nhiều, chưa khai thác tốt các tiềm năng và nguồn lực của địa phương; thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn lúng túng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vẫn còn hạn chế, hình thức sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, năng suất, chất lượng các loại nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi còn chậm, số lượng các mô hình sản xuất và chăn nuôi còn ít, chất lượng, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Việc chuyển giao, đầu tư ứng dụng tiến bộ KH&CN trên địa bàn huyện còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương; kết quả triển khai các đề tài, dự án KH&CN, chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng,…còn hạn chế, chưa thật sự trở thành động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của huyện;

Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện còn khiêm tốn.

Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành, mặt trận, đoàn thể từ huyện đến cơ sở về phát triển KH&CN chưa đầy đủ; nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN của tỉnh, huyện còn rất hạn chế, do đó chưa tạo động lực mạnh mẽ cho KH&CN phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương;

 

IV. Đề xuất và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy CNH, HĐH giai đoạn 2016-2020:

1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy CNH, HĐH giai đoạn 2016-2020:

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN để nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân; xem việc phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, từ đó đẩy mạnh việc chuyển giao và ứng dụng có hiệu quả tiến bộ KH&CN trên các lĩnh vực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng,…; trong đó chú ý phát triển công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo, nhằm tạo bước phát triển mới góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của huyện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2016-2020.

- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các cơ chế chính sách của Trung ương và UBND tỉnh về việc hỗ trợ các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất tiếp cận, liên kết với các doanh nghiệp và các đơn vị nghiên cứu khoa học để tiếp thu, chuyển giao ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch vào quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái;

- Khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư đổi mới thiết bị kỹ thuật, công nghệ theo hướng công nghệ sạch, để tăng năng suất, chất lượng hàng hóa, nhất là các sản phẩm lợi thế về nguyên liệu, thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu; gắn phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường bền vững.

2. Đề xuất và kiến nghị: Không.

            Trên đây là kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy CNH, HĐH trong thời gian qua và một số giải pháp để phát triển KH&CN trong thời gian đến. UBND huyện Hàm Thuận Bắc báo cáo Sở Khoa học và Công nghệ xem xét, tổng hợp./

        
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Số lượt truy cập

1708681
 
 
 
 
Tin tức - Sự kiện - Huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận

Bản quyền thuộc huyện Hàm Thuận Bắc, Tỉnh Bình Thuận

Thiết kế và phát triển bởi Unitech